Suy tim được coi là “kẻ giết người thầm lặng” do đây là hệ quả sau cùng của những bệnh lý tim mạch khác. Tỷ lệ tử vong của căn bệnh này lên tới 45% trong tổng số bệnh nhân mới mắc hằng năm.
Việc chẩn đoán sớm và chính xác bệnh suy tim vẫn còn gặp nhiều khó khăn
nếu chỉ dựa trên các dấu hiệu lâm sàng vì chúng thường không đặc hiệu.
PGS - TS Phạm Nguyễn Vinh, Giám đốc Y khoa BV Tim Tâm Đức, TP Hồ Chí
Minh cho biết, tuy chưa có một nghiên cứu chính thức về tỷ lệ mắc bệnh
suy tim ở Việt Nam, song theo tần suất mắc bệnh của thế giới, ước tính
có khoảng 320 nghìn đến 1,6 triệu người nước ta bị suy tim. Tần suất
bệnh nhân mắc bệnh suy tim mới mỗi năm đang tiếp tục tăng cao. Khoảng
45% số bệnh nhân sẽ tử vong trong vòng một năm sau khi được chẩn đoán.
Suy tim chiếm tỷ lệ tới 10% ở nhóm bệnh nhân nguy cơ cao với độ tuổi từ
70 trở lên.
Suy tim là tình trạng cơ tim mất khả năng bơm đủ máu
theo nhu cầu của cơ thể. Đây là bệnh diễn tiến chậm trong nhiều năm mà
không biểu hiện triệu chứng. Trong quá trình này, do phải làm việc nhiều
hơn để cố gắng cung cấp máu cho các cơ quan nên cơ tim bị giãn ra. Lâu
dần, tim sẽ phì đại và cuối cùng bị suy tim với đầy đủ triệu chứng.
Báo
cáo khoa học của GS – BS James Januzzi, Đại học Y khoa Harvard và là
Giám đốc Trung tâm Chăm sóc Tim mạch Tích cực tại Bệnh viện Đa khoa
Massachusetts ( Boston, Hoa Kỳ) trình bày trong Hội nghị khoa học thường
niên lần thứ tư về các chất đánh dấu sinh học cơ tim, do Hội Tim mạch
học TP Hồ Chí Minh kết hợp với Roche Diagnostics tổ chức, cho biết “Suy
tim là bệnh đe dọa tính mạng, gây tử vong cho gần nửa số bệnh nhân không
may mang căn bệnh này. Tuy nhiên, đây là bệnh có thể phòng ngừa được và
nếu được chẩn đoán và điều trị sớm thì sẽ tăng cơ hội sống cũng như
nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân”.
Mặc dù số bệnh nhân bị
suy tim ngày càng tăng, nhưng khả năng chẩn đoán vẫn còn nhiều giới hạn
do suy tim thường biểu hiện với những triệu chứng không điển hình như
khó thở, mệt và phù. Tuy nhiên, các triệu chứng này cũng thường gặp
trong nhiều bệnh khác, đặc biệt là bệnh hô hấp.
Theo GS – BS
J.Januzzi: “Khi bệnh nhân than khó thở, bác sĩ khó xác định được đây là
triệu chứng của bệnh phổi hay bệnh tim. Nếu không có các phương tiện
chẩn đoán khách quan, những yếu tố này làm cho chẩn đoán suy tim không
dễ dàng chút nào, và thường nhầm với những bệnh hô hấp. Nhưng bằng cách
đo nồng độ chất NT-proBNP trong máu không những chẩn đoán chính xác suy
tim mà còn giúp phát hiện sớm suy tim ngay cả khi chưa có triệu chứng rõ
ràng”.
Ông giải thích thêm: “Các cách chữa trị bằng thuốc hoặc
chế độ sinh hoạt thích hợp có thể rất hiệu quả đối với những trường hợp
suy tim nhẹ hoặc trung bình. Tuy nhiên, cần lưu ý một điều là phải bắt
đầu điều trị suy tim từ giai đoạn sớm vì khi tổn thương cơ tim đã hình
thành ở giai đoạn nặng thì không gì có thể cứu vãn, cuối cùng dẫn đến tử
vong”.
Siêu âm tim (echocardiography) hiện đang là phương tiện
thường dùng để tầm soát những trường hợp nghi ngờ suy tim. Tuy nhiên,
việc chẩn đoán chính xác tùy thuộc vào cơ sở thực hiện và kinh nghiệm
của người làm siêu âm. Ngoài ra, siêu âm tim cũng có những hạn chế khi
chẩn đoán ở những bệnh nhân béo phì hoặc phù nhiều… Trong khi đó, xét
nghiệm NT-proBNP cho kết quả khách quan hơn và có thể thực hiện dễ dàng
tại các phòng xét nghiệm trung tâm hoặc trên máy xét nghiệm nhanh tại
chỗ.
PGS Phạm Nguyễn Vinh phát biểu: “Ở Việt Nam, hiểu biết của
người dân về suy tim còn rất hạn chế. Nguy cơ suy tim tăng lên nếu bệnh
nhân mắc các bệnh lý mạn tính như tăng huyết áp hoặc đái tháo đường. Do
vậy, việc tầm soát thường quy bằng xét nghiệm NT-proBNP có thể giúp nhóm
bệnh nhân này kiểm soát tốt hơn và thậm chí có thể ngăn bệnh.”
Cũng
theo PGS Vinh: “Ở Việt Nam, khi bệnh nhân đến khám vì khó thở, thì
thường bị chẩn đoán nhầm là bệnh do phổi hơn là do tim. Do đó bệnh nhân
nên tham khảo thêm ý kiến của bác sĩ điều trị xem có cần làm thêm xét
nghiệm hay không để giúp loại trừ bệnh chính xác hơn.”
Theo Tổ
chức Y tế Thế giới (WHO), những yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim bao
gồm tăng
huyết áp, tăng mỡ máu (cholesterol),
đái tháo đường, béo phì,
tiền sử gia đình. Những người có một trong những nguy cơ chính này cần
được tầm soát thường xuyên bằng xét nghiệm NT-proBNP và tiếp tục theo
dõi bằng xét nghiệm này trong trong quá trình điều trị.
GS – BS
Januzzi cho rằng: “Ngoài tác dụng phát hiện sớm và chẩn đoán chính xác
suy tim, xét nghiệm NT-proBNP còn hữu ích cho việc hướng dẫn điều trị,
từ đó cải thiện kết quả cho bệnh nhân. Xét nghiệm này cũng có thể giúp
phòng ngừa suy tim ở những bệnh nhân có nguy cơ, và đo nồng độ NT-proBNP
cũng giúp dự đoán biến cố xấu ở bệnh nhân có suy tim mạn tính.”
Suy
tim là một trong những bệnh mạn tính có chi phí điều trị tốn kém nhất
với những lần nhập viện mà 80% chi phí trực tiếp nằm ở khâu chẩn đoán
suy tim. Do đó, theo GS – BS J.Januzzi: “Tiềm năng áp dụng phương pháp
điều trị theo hướng dẫn của
xét nghiệm NT-proBNP để nâng cao kết quả và giảm chi phí y tế là một bước đi quan trọng sắp tới trong xử trí suy tim.”
Nguồn sức khỏe & đời sống