Hệ
thống xương khớp của con người tuyệt vời đến mức chưa một người máy
nào có thể bắt chước hoàn hảo. Các thao tác, cử chỉ từ nhẹ nhàng đến
mạnh mẽ đều có sự tham gia của các ổ khớp. Khi ổ khớp bị viêm, các hoạt
động của chúng giảm tầm hoạt động, gây cứng khớp. Biết rõ các tiến
trình bệnh lý này giúp chúng ta tìm ra biện pháp phòng ngừa và điều trị
hữu hiệu.
Khớp
gồm nhiều thành phần khác nhau: sụn khớp, bao hoạt dịch, dây chằng,
cơ và gân cơ. Sụn khớp hay đầu xương bị tổn thương sẽ gây tăng ma sát
hai đầu xương, dẫn đến tiến trình viêm. Viêm khớp còn do chấn thương,
sử dụng quá mức ổ khớp, do bệnh lý hoặc do tuổi già (lão hoá). Hiện
tượng viêm từ mức độ vi tế sẽ trở nên thấy được với những triệu chứng:
sưng, đỏ, nóng, đau, cứng khớp và giới hạn biên độ hoạt động. Càng bị
đau, bệnh nhân càng có khuynh hướng giới hạn cử động, cơ càng bị co rút
dẫn đến cứng khớp; và vòng lẩn quẩn khiến viêm khớp nặng hơn!
Triệu chứng báo hiệu
Đầu
tiên là cảm giác đau khi ấn vào khớp. Không thể gập hay duỗi khớp một
cách bình thường. Đau khớp tự phát: hoặc đau các khớp lớn như khớp
gối, khớp vai, khớp cổ chân... hoặc đau những khớp nhỏ như khớp bàn tay
– ngón tay, khớp liên đốt ngón tay... Cơn đau gia tăng khi khớp chịu
lực hay gập duỗi. Tiếng lạo xạo, cót két phát ra khi cử động khớp. Yếu
cơ quanh ổ khớp.
Để
chẩn đoán viêm khớp, phải dựa trên sự thăm khám kỹ lưỡng và đánh giá
lâm sàng tỉ mỉ qua tổng hợp các triệu chứng. Các xét nghiệm chuyên biệt
giúp sự chẩn đoán chính xác hơn. Hình ảnh X-quang chỉ thấy rõ khi tổn
thương quá nặng. Vì thế, chẩn đoán sớm các bệnh lý viêm khớp rất quan
trọng. Bệnh nhân cần cung cấp đầy đủ thông tin về triệu chứng, bệnh sử,
tiền căn gia đình, danh sách thuốc đã sử dụng... Người thân đi theo
cũng cần cung cấp thêm thông tin bệnh tật và chia sẻ với bệnh nhân
những khó khăn về cả tâm lý lẫn thể chất, ghi nhớ lời dặn dò của bác
sĩ. Bác sĩ điều trị dựa vào sự khảo sát lâm sàng tỉ mỉ, đánh giá tình
trạng khớp, mức độ tổn thương khớp, chẩn đoán loại bệnh lý viêm
khớp... từ đó sẽ quyết định thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng như
X-quang, xét nghiệm chuyên biệt cho viêm khớp dạng thấp, viêm khớp do
thống phong, viêm dính cột sống, nhiễm trùng... Cuối cùng, bác sĩ cùng
bệnh nhân vạch ra kế hoạch điều trị. Khác với nước ngoài, bệnh nhân
nước ta thường để các bác sĩ quyết định hoàn toàn.
Một số loại viêm khớp thường gặp
Có
hàng trăm bệnh lý viêm khớp nhưng thường thấy là các loại sau: thoái
hoá khớp, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp thiếu nhi, nhiễm trùng khớp do
vi trùng sinh mủ, nhiễm trùng khớp do lao...
Thoái
hoá khớp: hay viêm khớp thoái hoá có thể ảnh hưởng bất cứ khớp. Tuy
nhiên thoái hoá khớp lớn thường gặp hơn, nhất là những khớp chịu lực
nhiều như khớp gối, khớp háng và khớp cổ chân. Nguyên nhân: do lạm dụng
sức chịu đựng khớp, do chấn thương, lão hoá, mập phì, tật bẩm sinh,
bệnh thống phong, tiểu đường, các bệnh lý nội tiết... Đa số thoái hoá
khớp không rõ nguyên nhân liên quan đến sự lão hoá. Thoái hoá khớp
không ảnh hưởng một cách hệ thống đến cơ thể như các bệnh viêm khớp
khác. Triệu chứng thay đổi tuỳ từng bệnh nhân, thường thấy nhất là đau
một ổ khớp hay nhiều khớp khi hoạt động quá mức và bớt khi nghỉ ngơi
hay tập nhẹ nhàng. Cứng khớp hay giới hạn cử động khớp thường xảy ra
vào buổi sáng, bớt khi tập luyện cử động nhẹ nhàng vài lần trong ngày.
Viêm
khớp ảnh hưởng đến vài trăm triệu người trên khắp thế giới. Hiểu rõ
và sống chung với viêm khớp, nhất là các loại bệnh viêm khớp mạn tính
là một thái độ tích cực góp phần gia tăng chất lượng cuộc sống của
chính bệnh nhân.
Viêm
khớp dạng thấp: là bệnh mạn tính thường thấy ở Việt Nam, số bệnh nhân
nữ nhiều gấp hai, ba lần nam giới. Viêm khớp tiến triển chậm dần theo
tuổi tác nhưng gây tỷ lệ tàn tật và tử vong cao. Đây là bệnh tự miễn,
do cơ thể tiết ra các chất tấn công bao khớp, xâm nhập và phá huỷ ổ
khớp. Nguyên nhân viêm khớp dạng thấp chưa rõ, nhưng yếu tố di truyền
được xem có vai trò quan trọng. Tuổi mắc bệnh thường là trung niên
nhưng vẫn có thể xảy ra ở tuổi 20 – 30. Nếu không điều trị, bệnh có
thể ảnh hưởng các cơ quan khác một cách có hệ thống. Triệu chứng thường
là sưng đau, ấn đau, giới hạn cử động hay cứng khớp. Các khớp thường
gặp là bàn – ngón tay, các lóng tay, cổ tay, cổ chân, bàn – ngón chân.
Sáng ra bệnh nhân thường có cảm giác cứng, khó cử động bàn – ngón tay
hay ngón chân trong nhiều giờ, càng vận động càng bớt cứng. Bệnh nhân
cũng thấy tê các đầu ngón tay và ngón chân, nhất là về đêm hay vừa ngủ
dậy. Triệu chứng viêm khớp thường có tính đối xứng. Bệnh nhân còn thấy
chán ăn, mệt mỏi, sốt nhẹ... Diễn biến lâu năm, các biến dạng khớp
tiến triển dần do tổn thương nặng xương – sụn; xương kêu lạo xạo khi cử
động; xuất hiện các nốt thấp dưới da quanh các khớp chịu lực.
Viêm
khớp thiếu nhi: phần lớn nguyên nhân không được biết rõ. Đây không
phải là bệnh lây lan, cũng không phải do những yếu tố như thức ăn, chất
độc, sinh tố, dị ứng... Cũng không chắc có yếu tố di truyền. Nhiều
triệu chứng bệnh giống viêm khớp dạng thấp người lớn. Khi bệnh tiến
triển lâu, xương sụn khớp bị tổn thương nặng có thể gây biến dạng khớp,
khó cử động và ảnh hưởng lên sự tăng trưởng xương khớp. Một số cháu
có triệu chứng một thời gian rồi khỏi hẳn, một số cháu sẽ không khỏi
nếu không được chữa trị.
Điều trị
Mục
tiêu chính của điều trị là giảm đau, gia tăng tầm độ hoạt động khớp,
cải thiện sức chịu lực của khớp và sức cơ quanh ổ khớp, phòng ngừa bệnh
tiến triển nặng gây biến dạng khớp. Mục tiêu đề ra còn tuỳ thuộc yêu
cầu của từng bệnh nhân.
Có
nhiều chọn lựa trong phương pháp điều trị, hoặc riêng rẽ hoặc phối
hợp: điều trị bảo tồn (nằm nghỉ, thuốc men, tập luyện nhẹ nhàng, giảm
trọng lượng, vận động trị liệu hay hướng nghiệp trị liệu…), phẫu thuật.
Kế hoạch điều trị cần kết hợp các biện pháp khác: thay đổi thói quen
sinh hoạt để cải thiện toàn diện sức khoẻ, tập luyện hàng ngày; sử dụng
thuốc…
Một
trong những biện pháp hữu hiệu giúp giảm đau trong viêm khớp là giảm
cân. Mập quá cơ thể sẽ tăng lực chịu đựng lên các khớp, đặc biệt với
những bệnh nhân thoái hoá khớp. Vì vậy cần thực hiện chế độ dinh dưỡng
hợp lý, giữ trọng lượng lý tưởng, giúp khớp viêm tránh tổn thương
thêm. Bỏ thuốc lá cũng là một yêu cầu đối với bệnh nhân viêm khớp. Phụ
nữ hút thuốc có nguy cơ tăng bệnh viêm khớp dạng thấp gấp hai lần người
khác.
Tập
luyện là một bước quan trọng giúp duy trì chất lượng cuộc sống tốt
hơn để có thể “sống chung” với viêm khớp. Cần tôn trọng nguyên tắc “tập
không đau”. Các bài tập tuỳ theo từng khớp đau. Bệnh nhân nên thảo
luận với bác sĩ hay kỹ thuật viên phục hồi chức năng về nội dung tập
luyện. Chỉ nên tự tập khi đã có sự hướng dẫn và quen với các thao tác
tập. Các trợ cụ tập có thể hữu ích dưới sự hướng dẫn chuyên môn.
Theo PGS.TS.BS Võ Văn Thành
SGTT